[Sách nói] TRƯỜNG THPT TỨ KỲ II
Tiểu thuyết

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:39' 12-03-2025
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyễn Thị Tuyết (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:39' 12-03-2025
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN MỞ ĐẦU
ĐÀI BẮC
Nhân Duyên
PHẦN MỘT
COLORADO
Cuộc Gặp Tiền Định
PHẦN HAI
ATLANTIS
Tiền Kiếp Dậy Sóng
PHẦN BA
KARMA
Nghiệp Quả Báo Ứng
PHẦN BỐN
AI CẬP
Thần Linh Không Trong Tượng Đài
PHẦN NĂM
PHARAOH
Quyền Lực Và Yêu Thương
PHẦN SÁU
LUÂN HỒI CÁC NỀN VĂN MINH
Không Có Gì Là Mãi Mãi
PHẦN BẢY
THÀNH - TRỤ - HOẠI - DIỆT
Vòng Tròn Vũ Trụ
LỜI GIỚI THIỆU
HÀNH TRÌNH
T
Muôn Kiếp Nhân Sinh
ôi chưa từng có dịp gặp tác giả Nguyên Phong. Trước đó, tôi
biết đến ông như một nhà khoa học nổi tiếng thế giới và
cũng là người phóng tác, viết lại những tác phẩm về văn hóa, tâm
linh kinh điển mà nhiều thế hệ bạn đọc Việt, trong đó có tôi, hằng
yêu mến.
Hơn năm năm trước tôi có nhân duyên được trò chuyện cùng tác
giả Nguyên Phong về những bí ẩn liên quan đến tác phẩm kỳ bí nổi
tiếng Hành Trình về Phương Đông - tác phẩm ra đời gần nửa thế kỷ
trước nhưng không một ai trên thế giới có thể truy tìm được bản
gốc, để biết bao độc giả nhiều thế hệ còn thắc mắc và khiến một nhà
xuất bản ở Mỹ phải dịch ra tiếng Anh từ nguyên bản tiếng Việt mà
Nguyên Phong đã phóng tác. Tôi đã hiểu rộng hơn nghĩa phóng tác
- là có thể viết theo tiềm thức của mình, bằng kiến thức và những
chiêm nghiệm cuộc sống. Và tôi đã nghiệm ra, có những người Việt
vô cùng khiêm nhường nhưng không hề thua kém bất cứ ai trên thế
giới rộng lớn này.
Tôi đã may mắn được ông chia sẻ nhiều câu chuyện trong nhiều
năm. Vào một đêm khuya năm 2016, trong cuộc trò chuyện kéo dài
gần về sáng, tôi đã hỏi ông về Nhân quả và Luân hồi. Ông đã kể lại
một mối nhân duyên xảy ra nhiều năm trước, về Thomas - một
doanh nhân nổi tiếng ở New York - và những câu chuyện tiền kiếp
của mình. Tôi đã vô cùng ngạc nhiên và linh cảm rằng câu chuyện
này có liên quan đến những trăn trở trước giờ của tôi, và chắc cũng
của rất nhiều người. Tôi rất mong tác giả Nguyên Phong có thể viết
lại những câu chuyện đó thành một cuốn sách. Ông im lặng không
trả lời, và cũng không nhắc lại chuyện này trong những cuộc nói
chuyện tiếp theo. Bẵng đi hơn hai năm, tôi bất ngờ nhận được thư
điện tử của ông, trong đó là những chương đầu tiên của cuốn sách
mà ông đặt tên là Muôn Kiếp Nhân Sinh. Đọc xong, tôi đã thầm nghĩ
không thể có cái tên nào chính xác hơn. Tôi biết được rằng trong hai
năm qua ông đã bay sang New York nhiều lần, phỏng vấn, trò
chuyện với ông Thomas để thực hiện cuốn sách. Trước đó, tác giả
Nguyên Phong đã liên lạc với ông Thomas để hỏi xin ý kiến về việc
viết một cuốn sách kể lại các câu chuyện tiền kiếp mà ông từng chia
sẻ. Ban đầu ông không chắc ông Thomas sẽ chấp nhận, vì nhiều
câu chuyện quá riêng tư, nhạy cảm, nhưng bất ngờ thay, Thomas đã
đồng ý.
Muôn Kiếp Nhân Sinh là một bức tranh lớn với vô vàn mảnh
ghép cuộc đời, là một cuốn phim đồ sộ, sống động về những kiếp
sống huyền bí, trải dài từ nền văn minh Atlantis hùng mạnh đến
vương quốc Ai Cập cổ đại của các Pharaoh quyền uy, đến Hợp
Chủng Quốc Hoa Kỳ ngày nay - nơi nhân vật chính Thomas, người
bạn tâm giao lâu năm của tác giả Nguyên Phong - đang sống.
Muôn Kiếp Nhân Sinh cung cấp cho bạn đọc kho kiến thức mới
mẻ, vô tận của nhân loại lần đầu được hé mở, cùng những phân
tích uyên bác, tiên đoán bất ngờ về hiện tại và tương lai thế giới của
những bậc hiền triết thông thái. Thông điệp quan trọng xuyên suốt
của tác phẩm thức tỉnh con người chính là nguồn gốc và cách thức
vận hành luật Nhân quả và Luân hồi của vũ trụ. Đời người tưởng
chừng rất dài nhưng lại trôi qua rất nhanh, sinh vượng suy tử, mong
manh như sóng nước. Luật Nhân quả cực kỳ chính xác, chi tiết,
phức tạp, được thu thập qua nhiều đời, nhiều kiếp, liên hệ tương hỗ
đan xen chặt chẽ lẫn nhau, không ai có thể tính được tích đức này
có thể trừ được nghiệp kia, không ai có thể biết được khi nào nhân
sẽ trổ quả. Nhưng, một khi đã gây ra nhân thì chắc chắn sẽ gặt quả
- luật Nhân quả trước giờ không bao giờ sai.
Những xung lực, năng lượng vô hình của vũ trụ qua luật Luân
hồi và Nhân quả đã tạo nhân duyên để người này gặp người kia.
Gặp nhau có khi là duyên, có khi là nợ; gặp nhau có lúc để trả nợ,
có lúc để nối lại duyên xưa. Có biết bao việc diễn ra trong đời, tưởng
chừng như là ngẫu nhiên nhưng thật ra đã được sắp đặt từ trước.
Luân hồi là một ngôi trường rộng lớn, nơi tất cả con người, tất cả
sinh vật đều phải học bài học của riêng mình cho đến khi thật hoàn
thiện mới thôi. Nếu không chịu học hay chưa học được trọn vẹn thì
buộc phải học lại, chính xác theo quy luật của Nhân quả. Có người
có cơ duyên được chứng kiến luật Nhân quả hay Luân hồi, có người
thì không, điều đó còn phụ thuộc vào cơ duyên, nhận thức, trải
nghiệm và niềm tin ở mỗi người.
Một lời tri ân chân thành tới tác giả Nguyên Phong - người đã
dày công viết nên cuốn sách đặc biệt này - là không đủ. Qua những
lần trò chuyện, tôi nhận ra ông chỉ có một ước mong duy nhất khi
viết cuốn sách này. Xin được cảm ơn ông Thomas - vì tất cả. Xin
được chia sẻ cùng bạn đọc những chiêm nghiệm sâu sắc, tâm huyết
nhất của ông:
“Hiện nay thế giới đang trải qua giai đoạn hỗn loạn, xáo trộn, mà
thật ra thì mọi quốc gia đều đang gánh chịu những nghiệp quả mà
họ đã gây ra trong quá khứ. Mỗi quốc gia, cũng như mọi cá nhân,
đều có những nghiệp quả riêng do những nhân mà họ đã gây ra. Cá
nhân thì có 'biệt nghiệp' riêng của từng người, nhưng quốc gia thì có
'cộng nghiệp' mà tất cả những người sống trong đó đều phải trả.
Hãy nhìn khắp thế giới hiện nay với hơn bảy tỷ người, có bao
nhiêu người đang hành động độc ác, vô nhân tính? Có những quốc
gia đang đối xử với người khác tàn độc như thế nào? Có biết bao cái
chết thương tâm và cuộc sống bi đát của nhiều con người vô tội đã
và đang diễn ra? Hãy thử nghĩ nếu tất cả đều chịu học hỏi và hiểu rõ
về Nhân quả, biết rõ một khi 'gieo nhân gì sẽ gặt quả đó' thì có ai
dám hành động như thế không? Thường thì con người, khi hành
động, ít ai nghĩ đến hậu quả, nhưng một khi hậu quả xảy đến thì họ
nghĩ gì, làm gì? Họ oán hận, trách trời, trách đất, trách những người
chung quanh đã gây ra những hậu quả đó? Có mấy ai biết chiêm
nghiệm, tự trách mình và thay đổi không? Đó là động lực để tôi chia
sẻ những câu chuyện chưa từng kể với ai này - dù có những điều
thiên cơ bất khả lộ - và chấp thuận để anh chia sẻ những trải
nghiệm, bài học vô tiền khoáng hậu này với các bạn của anh, để viết
thành một cuốn sách cho nhiều người trên thế giới cùng chiêm
nghiệm - giữa lúc hành tinh đang gặp nhiều tai ương, biến động từng
ngày. Tôi mong chúng ta - những cánh bướm bé nhỏ rung động
mong manh cũng có thể tạo nên những trận cuồng phong mãnh liệt
để thức tỉnh mọi người.
Tương lai của mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia và cả
hành tinh này sẽ ra sao trong giai đoạn sắp tới là tùy thuộc vào thái
độ ứng xử, nhìn nhận và thức tỉnh của từng cá nhân, từng tổ chức,
từng quốc gia đó tạo nên. Nếu muốn thay đổi, cần khởi đầu bằng
việc nhận thức, chuyển đổi tâm thức, lan tỏa yêu thương và chia sẻ
sự hiểu biết từ mỗi người chúng ta trước.
Nhân quả đừng đợi thấy mới tin. Nhân quả là bảng chỉ đường,
giúp con người tìm về thiện lương“.
Nguyễn Văn Phước
Sáng lập First News - Trí Việt
PHẦN MỞ ĐẦU
ĐÀI BẮC
N
Nhân Duyên
Năm 2008, tôi có dịp tham dự một hội thảo khoa học tại Đài
Bắc. Nhân dịp đó, tôi liên lạc với một người bạn thân, giáo
sư Raymond Yeh, để đến thăm ông này. Giáo sư Yeh là cựu Trưởng
khoa Khoa học Máy tính tại trường Đại học Texas và Đại học
Maryland. Ông là một nhà khoa học, là tác giả của rất nhiều tài liệu
nghiên cứu và của mười cuốn sách giáo trình được dạy trong các
trường đại học tại Hoa Kỳ. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ khoa học
gia và giáo sư nổi tiếng ngày nay. Mặc dù đã về hưu và sống tại Đài
Bắc nhưng ông vẫn tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực khoa học và có
tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới. Giáo sư Yeh vui mừng mời tôi ghé
qua tư gia ăn tối. Điều bất ngờ là trong bữa ăn đó cũng có sự hiện
diện của phi hành gia Edgar Mitchell1 và một người bạn của ông tên
là Thomas K, cũng đến thăm giáo sư Yeh.
Giáo sư Yeh mở đầu giới thiệu với mọi người:
- Phi hành gia Edgar Mitchell là một nhà khoa học lỗi lạc với
nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về không gian tại Đại học
Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Ông là một trong
sáu người đã đặt chân lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 14 vào
ngày 31 tháng 1 năm 1971. Trên hành trình trở về trái đất, nhìn qua
cửa sổ của phi thuyền, ông thấy trái đất thật nhỏ bé so với vũ trụ
bao la và bất ngờ trải nghiệm một cảm giác bình an lạ lùng không
thể diễn tả.
Khi trở về, ông tìm đủ mọi cách để tìm hiểu về cái cảm giác đó.
Là nhà khoa học, Edgar Mitchell cố gắng nghiên cứu để giải thích sự
bình an lạ lùng này qua các lý thuyết khoa học nhưng không thành
công. Ông quy tụ một số khoa học gia nổi tiếng, thành lập một viện
nghiên cứu về mối liên hệ giữa khoa học và trải nghiệm nội tâm
(Institute of Noetic Science); nhưng qua nhiều năm, những nhà khoa
học lỗi lạc nhất này cũng chưa thể đi đến một kết luận nào cả. Do
đó, lần này tôi mời ông ấy đến gặp Hòa thượng Thánh Nghiêm,
mong rằng ngài có thể giúp ông ấy giải đáp thắc mắc về trải nghiệm
này.
Trong bữa ăn tối hôm đó, chúng tôi đàm đạo thân mật về các lý
thuyết khoa học vừa được phát minh vào lúc đó. Tôi nhận thấy phi
hành gia Mitchell là người có đầu óc cởi mở, với sự hiểu biết rộng
và sâu sắc hơn những nhà khoa học khác mà tôi đã gặp.
Ông Mitchell nói:
- Các phát minh khoa học mới nhất hiện nay đang thúc đẩy nhân
loại phải thay đổi cách suy nghĩ và quan niệm của họ, ngay cả với
những gì mà trước đây chúng ta vẫn cho là đúng. Càng ngày càng
có thêm nhiều khám phá mới, dữ kiện mới, có thể hoàn toàn thay
đổi nền tảng khoa học mà chúng ta đã xây dựng từ mấy trăm năm
nay. Thí dụ như, trong nhiều thế kỷ, chúng ta đã tin rằng trái đất là
trung tâm của vũ trụ và mọi hành tinh, kể cả mặt trời, mặt trăng đều
quay quanh trái đất. Dĩ nhiên hiện nay chúng ta biết rằng điều này
hoàn toàn sai. Mặt trời chỉ là trung tâm của một Thái Dương hệ, quả
đất của chúng ta và các hành tinh liên hệ đều quay quanh mặt trời.
Tuy nhiên, vũ trụ thì vô cùng rộng lớn và có rất nhiều Thái Dương hệ
khác mà chúng ta chưa biết đến. Theo ước tính của Cơ quan Hàng
không và Vũ trụ Mỹ (NASA) thì có khoảng hơn một tỷ Thái Dương
hệ trong vũ trụ bao la mà Thái Dương hệ của chúng ta chỉ là một
phần nhỏ trong đó.
Ông Mitchell bất chợt trầm ngâm, giọng xúc động:
- Chỉ khi con người đi ra ngoài không gian mới thật sự thấy được
chúng ta quá nhỏ bé giữa vũ trụ bao la ngoài sức tưởng tượng này.
Hiện nay, chúng ta biết rằng sự sống đã có mặt trên trái đất này từ
hàng triệu năm nay, nhưng biết đâu sự sống cũng có thể hiện hữu ở
các hành tinh khác hay các Thái Dương hệ khác nữa. Chúng ta cho
rằng loài người là thông minh nhất khi so sánh với các loài vật,
nhưng biết đâu có những sinh vật thuộc hành tinh khác còn thông
minh hơn mà chúng ta chưa hề biết đến.
Cách đây không lâu, chúng ta cho rằng vật thể nhỏ nhất trên thế
giới là phân tử (Molecule), nhưng sau đó chúng ta tìm ra nguyên tử
(Atom) và nghĩ rằng nguyên tử là vật thể nhỏ nhất. Hiện nay, chúng
ta biết rằng nguyên tử không phải là nhỏ nhất mà còn có những hạt
lượng tử nhỏ hơn nhiều (Quark). Nếu chúng ta tiếp tục nghiên cứu
thì có lẽ sẽ còn có những thứ nhỏ hơn nữa. Do đó, kiến thức của
chúng ta luôn luôn thay đổi theo các khám phá mới của khoa học.
Nếu chúng ta có thể chứng minh được rằng hạt vi lượng (Neutrino)
di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng thì quan niệm về thuyết
Tương đối của Einstein phải thay đổi và quỹ đạo của mọi hành tinh
trong vũ trụ sẽ khác hẳn những gì chúng ta đo được ngày nay.
Ông ngừng lại và nhấn mạnh từng chữ:
- Vấn đề là chúng ta sẽ phản ứng như thế nào với những dữ kiện
mới được khám phá? Liệu chúng ta có chấp nhận rằng những gì
chúng ta tin tưởng từ bấy lâu nay chỉ là những lý thuyết không còn
giá trị nữa không? Hay chúng ta vẫn bám chặt lấy quan niệm cũ vì
đã coi chúng như là chân lý tuyệt đối?
Giáo sư Yeh đồng tình tiếp lời:
- Khoa học thực nghiệm chỉ là tập hợp những kiến thức thu tập
được từ nhiều cuộc thí nghiệm, với những dữ liệu được đo lường,
quan sát và kiểm chứng. Là khoa học gia, chúng ta luôn luôn tìm
kiếm, học hỏi và nghiên cứu dựa trên lý luận, đặt ra những giả
thuyết, rồi chứng minh rằng chúng đúng hay sai. Tất cả những gì
chúng ta xây dựng đều hoàn toàn dựa vào các công cụ đo lường;
nhưng với sự tiến bộ của khoa học, khi các công cụ này ngày một
tinh vi hơn, chính xác hơn, chúng ta sẽ tìm thêm được những dữ
liệu mới để bổ sung cho những dữ liệu trước và tiếp tục xây dựng
nền khoa học hiện nay. Nói cho đúng thì khoa học thực nghiệm là
một tiến trình luôn luôn thay đổi để bổ sung cho những gì bất toàn
trước đây.
Ông Mitchell mỉm cười:
- Nhưng sẽ có một lúc nào đó chúng ta tìm ra những dữ liệu
hoàn toàn khác với những dữ liệu trước đó. Chúng ta sẽ đặt ra
những giả thuyết mới để thay đổi các quan niệm hiện tại và chúng ta
sẽ có một cuộc cách mạng khoa học lật đổ tất cả những gì chúng ta
xây dựng trước đây.
Bất chợt, ông Mitchell quay qua hỏi tôi:
- Anh cũng là một nhà khoa học, vậy anh nghĩ như thế nào?
Tôi suy nghĩ, rồi trả lời:
- Một cuộc cách mạng khoa học như thế có lẽ cần nhiều thứ hơn
là việc đưa ra một lý thuyết mới để đánh đổ những lý thuyết trước.
Theo tôi nghĩ, trước hết, chúng ta phải nghiệm lại các quan niệm
trước để tìm hiểu tại sao chúng không còn đúng nữa. Như giáo sư
Yeh đã nói, nếu chúng ta phát minh ra những công cụ tinh vi hơn,
chính xác hơn, thì chúng ta hiểu rằng công cụ trước đây không hoàn
hảo. Nếu chúng ta có thể chứng minh rằng những dữ liệu mới này
hợp lý hơn, chính xác hơn, giá trị hơn, thì chúng ta có thể đưa ra
bằng chứng để biện minh cho lý thuyết mới này và thay thế lý thuyết
trước đã không còn giá trị nữa. Tuy nhiên, tôi nghĩ có lẽ sẽ phải mất
nhiều thời gian để thay đổi tư duy của mọi người.
Chúng tôi tiếp tục thảo luận về các phát minh khoa học, nhưng
phần lớn là cuộc đối thoại giữa phi hành gia Mitchell và giáo sư Yeh.
Tôi và ông Thomas chỉ ngồi nghe, đôi khi thêm vào vài câu xã giao.
Tôi thấy ông Thomas chăm chú vào cuộc đối thoại, thỉnh thoảng lại
mỉm cười nhưng không nói gì. Có lẽ vì ông là một doanh nhân chứ
không phải là khoa học gia như chúng tôi nên ông kiệm lời hơn.
Sau bữa ăn, ông Mitchell hỏi tôi:
- Ngày mai chúng tôi sẽ đến gặp Hòa thượng Thánh Nghiêm,
anh có muốn đi cùng với chúng tôi không?
Dĩ nhiên tôi không thể từ chối một cơ hội hiếm có như vậy.
Buổi gặp gỡ được sắp đặt trước này diễn ra tại giảng đường Đại
học Đài Bắc cho một số sinh viên và giáo sư tham dự. Giáo sư Yeh
là người chủ trì buổi nói chuyện.
Giáo sư Yeh bắt đầu cuộc gặp mặt:
- Mitchell, ông hãy kể về trải nghiệm lạ lùng khi bay trên không
gian vũ trụ cho Hòa thượng Thánh Nghiêm nghe và hỏi ngài về
những thắc mắc của ông đi.
Phi hành gia Mitchell lên tiếng:
- Thưa Hòa thượng, sau khi hoàn tất sứ mệnh trên mặt trăng,
chúng tôi bắt đầu bay trở về trái đất. Khi bay trong không gian, phi
thuyền của chúng tôi phải liên tiếp xoay tròn theo trục di chuyển 360
độ để giảm sức nóng phát ra từ ánh sáng mặt trời. Do đó, cứ mỗi
hai phút thì tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng và mặt trời qua cửa
kính của phi thuyền. Tôi cũng phải nói thêm là bên ngoài không gian,
vì không có bầu khí quyển nên chúng tôi nhìn thấy các hành tinh rất
rõ. Khi ở trên trái đất, chúng ta nhìn lên bầu trời và thấy các vì sao
lấp lánh vì ảnh hưởng của bầu khí quyển; nhưng trong không gian,
tất cả đều sáng rõ như một mạng lưới khổng lồ với hàng ngàn hàng
vạn vì sao trông như những hạt kim cương tỏa sáng. Đó là một hình
ảnh tuyệt vời đối với các phi hành gia chúng tôi lúc đó. Ngày nay,
mọi người đều có thể nhìn thấy hình ảnh này qua kính viễn vọng
Hubble, hay qua các hình ảnh mà Cơ quan Hàng không và Vũ trụ
Mỹ chụp được và đưa lên mạng. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy
vũ trụ đẹp vô cùng, không lời nào có thể diễn tả được.
Là một nhà khoa học, tôi biết rằng tất cả những tế bào, những
nguyên tử trong cơ thể tôi, hay cơ thể của những người bạn tôi
trong phi thuyền, và ngay cả những nguyên tử cấu tạo nên phi
thuyền, đều phát xuất từ hành tinh của chúng ta hay chính là khởi
nguồn trong vũ trụ. Mọi hiện tượng vật chất đều phát xuất từ vũ trụ
này. Từ đó, tôi ý thức rằng thân thể của tôi và tất cả mọi vật trong vũ
trụ không có gì sai biệt. Thay vì là một cá thể độc lập, một thành
phần riêng rẽ, tôi ý thức rằng tất cả cùng chung một nguồn gốc.
Ngay khi đó, toàn thân tôi bỗng nhiên rung động mãnh liệt. Tôi thấy
mình chìm đắm trong một cảm giác bình an lạ lùng không thể diễn
tả. Trải nghiệm này tiếp tục diễn ra mỗi khi tôi không bận rộn. Là phi
hành gia, dĩ nhiên chúng tôi rất bận vì vừa phải điều khiển phi
thuyền, vừa phải hoàn thành những thí nghiệm khoa học trong phi
thuyền, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng dừng lại nhìn ra ngoài cửa sổ
để chiêm ngưỡng vẻ đẹp diệu kỳ của vũ trụ và cảm nhận cảm giác
bình an lạ lùng này.
Với mỗi vòng quay của phi thuyền, tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt
trăng, mặt trời, cùng các vì tinh tú lấp lánh. Tôi thấy vũ trụ giống như
một tấm lưới với hàng triệu vì sao toát ra thứ ánh sáng rực rỡ, và tôi
ý thức rõ ý niệm “vạn vật đồng nhất thể”. Tôi hiểu rằng nếu đã đồng
nhất với tất cả thì vạn vật đều liên quan chặt chẽ với nhau, không
thể tách rời được. Đây là một quan niệm mới lạ mà từ trước đến
nay, các nhà khoa học chúng tôi không ai nghĩ đến.
Trong trải nghiệm bình yên đặc biệt đó, tôi tự hỏi: “Tôi thực sự là
ai? Tôi từ đâu tới đây? Rồi tôi sẽ đi về đâu? Vũ trụ được hình thành
và có mối liên hệ như thế nào với trái đất cùng những con người
sống ở đó? Có phải chúng tôi, những người đầu tiên du hành ra
ngoài không gian, đã cảm nhận được sự tương quan rõ rệt giữa con
người và vũ trụ, khác hẳn với ý niệm của những người chưa từng
rời trái đất?”.
Từ ý niệm này, tôi nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc phải tìm cách thay
đổi các quan niệm định kiến chật hẹp đã giam cầm bao nhiêu thế hệ
từ trước đến nay bằng một quan niệm mới về sự tương quan giữa
con người và vũ trụ. Có lẽ các định luật khoa học, các kiến thức
được xây dựng từ ngàn xưa sẽ phải thay đổi khi chúng ta nhìn lại tất
cả những gì chúng ta đã làm trên trái đất này, sau khi chứng kiến sự
nhỏ bé của chúng ta so với vũ trụ bao la. Ngay như nền khoa học
hiện đại bắt đầu khoảng bốn trăm năm trước với Isaac Newton cũng
sẽ phải thay đổi khi con người bước ra khỏi tầm ảnh hưởng của sức
hút trái đất.
Khi lan man nghĩ đến đó, tôi chợt nghĩ đến những bậc tiên phong
như Copernicus, Galileo và những nhà khoa học lỗi lạc khác đã đưa
ra ý kiến về sự tương quan giữa trái đất và vũ trụ nhưng phải chịu
đựng sự chống đối, kỳ thị của những quan niệm thiển cận, hẹp hòi
lúc bấy giờ. Người thì bị thiêu sống, người thì bị giam cầm cho đến
chết, nhưng sự thật vẫn là sự thật, không thể chối cãi. Tất cả khuynh
hướng bảo thủ, hẹp hòi trước sau cũng phải thay đổi khi người ta
biết hướng tầm mắt lên cao, xóa bỏ thành kiến cũ và mở rộng tâm
hồn để nhìn ra vũ trụ bao la.
Phi hành gia Mitchell ngừng lại suy nghĩ, rồi tiếp tục:
- Khi trở về trái đất, tôi luôn thắc mắc về cái cảm giác bình an lạ
lùng này. Tôi tìm đọc rất nhiều sách vở khoa học nhưng không tìm
thấy gì có thể giải thích hiện tượng trên. Tôi chuyển qua nghiên cứu
các sách vở tôn giáo của phương Tây nhưng cũng không tìm được
gì. Tôi tìm đến những học giả thông thái nhưng không ai có thể trả
lời được thắc mắc của tôi. Một người bạn khuyên tôi nên tìm đọc
các tài liệu về tôn giáo phương Đông, và tôi bắt đầu nghiên cứu
Phật giáo, nhất là các sách nói về đại định (Samadhi). Tôi thấy có sự
trùng hợp giữa trải nghiệm mà tôi đã trải qua trên không gian với trải
nghiệm của các hiền triết phương Đông, khi họ diễn tả về trạng thái
thiền định.
Giáo sư Yeh chợt hỏi:
- Phải chăng cảm giác đó là thấy mình hợp nhất với vạn vật?
Phi hành gia Mitchell trả lời:
- Đúng thế, lúc đó tôi không thấy có sự khác biệt giữa mình và
vạn vật nữa. Cái cảm giác hòa hợp, rung động cùng với sự chuyển
động của vũ trụ, là một trải nghiệm kỳ lạ không thể diễn tả được
bằng lời.
Giáo sư Yeh quay sang hỏi Hòa thượng Thánh Nghiêm:
- Bạch Hòa thượng, theo quan niệm của Phật giáo, trải nghiệm
không còn thấy sự phân biệt giữa mình và vạn vật của phi hành gia
Mitchell có phải là một sự chứng ngộ không?
Hòa thượng Thánh Nghiêm mỉm cười nhìn ông Mitchell:
- Trước hết tôi rất mừng cho phi hành gia Mitchell đã có một trải
nghiệm đặc biệt. Trong hàng ngàn, hàng vạn người, không mấy ai
có được trải nghiệm như thế. Trong cuộc sống, khi người ta trải
nghiệm một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, có thể thay đổi hẳn các
trải nghiệm cá nhân từ trước, ta có thể coi đó như là một sự chứng
ngộ. Tuy nhiên, đó cũng có thể chỉ là một cảm giác nhất thời.
Thí dụ như, cách đây không lâu, một đệ tử của tôi cũng có một
trải nghiệm đặc biệt. Sau một khóa tu thiền kéo dài bảy ngày, anh ta
trở về nhà. Trên đường về, anh ta thấy tất cả cây cối, hoa lá, từ
những con côn trùng nhỏ bé cho đến những chiếc lá cây, ngọn cỏ
đều vui mừng chào đón anh. Anh cảm nhận được một niềm an lạc
tuyệt vời như hòa nhập với ngoại cảnh và tin rằng mình đã chứng
ngộ. Anh vội vã trở lại kể cho tôi nghe về trải nghiệm đó. Tôi nói với
anh rằng tuy đó là một khoảnh khắc trải nghiệm tuyệt vời nhưng
cũng có thể biến đi ngay trong chốc lát. Đừng coi cảm giác đó là một
sự chứng ngộ. Nếu không tin, anh hãy thử trở lại khu vườn đó để
xem những cây cỏ, hoa lá, muông thú có chào đón anh như trước
không.
Khi quay trở lại, anh không cảm nhận được trải nghiệm như
trước nên đã hỏi: “Làm thế nào để con có thể lấy lại cái cảm giác
tuyệt vời đó?”. Tôi trả lời: “Không ai có thể sở hữu mãi mãi trải
nghiệm đã qua đó. Nếu muốn nắm giữ nó mãi thì anh thật tham lam.
Có được trải nghiệm này chỉ là một kết quả của quá trình tu tập mà
thôi. Đó không phải là sự chứng ngộ như anh kỳ vọng. Mục đích của
tu tập thiền định là để phát triển trí tuệ và xóa bỏ bản ngã. Nếu
chúng ta đạt đến trạng thái Vô ngã thì thế giới này còn tồn tại nữa
không? Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Tâm vô phân biệt thì làm gì
còn có chúng ta hay thế giới này nữa? Đối với đa số mọi người, thế
giới này thật sự hiện hữu, nhưng đối với những người đã chứng ngộ
thì thế giới này chỉ là huyễn ảo, không có thật, do đó tất cả trải
nghiệm dù là trải nghiệm gì đi chăng nữa, cũng chỉ là huyễn ảo chốc
lát mà thôi. Chúng ta không nên để ý đến nó hay muốn nắm giữ nó
mãi làm gì”.
Giáo sư Yeh hỏi thêm:
- Bạch Hòa thượng, như thế thì dù chúng ta có được những trải
nghiệm gì cũng không nên bám víu vào nó hay sao?
Hòa thượng Thánh Nghiêm trả lời:
- Cho dù trải nghiệm đó diễn ra thế nào đi nữa, hãy để cho nó
đến và đi một cách tự nhiên. Có thể nó chỉ là điều xuất phát từ tâm
thức, sẽ thay đổi, vì tất cả mọi sự đều sẽ đổi thay. Dù nó hiện hữu
như thật, vẫn hãy coi nó chỉ là những hiện tượng của tâm thức mà
thôi.
Tuy nhiên, đối với những người đã trải nghiệm, rồi hoàn toàn
thay đổi nhận thức của họ và luôn luôn sống với tâm thức đó, thì
chúng ta có thể kết luận rằng người đó đã chứng ngộ. Theo quan
niệm của Phật giáo, người này đã có một “nhân” lành từ trước và
đến nay nó bắt đầu trổ “quả”.
Hòa thượng Thánh Nghiêm chia sẻ tiếp:
- Phi hành gia Mitchell là một nhà khoa học, nhưng không thể
giải thích trải nghiệm đó bằng lý luận của khoa học, không thể
chứng minh nó qua các cuộc thí nghiệm, hay tạo ra lý thuyết bằng
phương pháp luận lý. Ông tin rằng đây là một kiến thức mới, mà
khoa học cần khám phá, nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ông nên biết
rằng cảm giác đó là một trải nghiệm tâm linh nằm trong phạm trù
của tôn giáo mà khoa học không thể giải thích. Triết học hay luận lý
học cũng không thể giải thích được, vì nó là một trải nghiệm tinh
thần xảy ra cho một người duy nhất - là ông mà thôi. Trải nghiệm ấy
đã làm thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ của ông. Từ đó, ông cảm
thấy nó trở thành một phần của ông, không thể tách rời ra được
nữa. Trải nghiệm này vượt khỏi phạm trù của khoa học bởi vì những
người trải nghiệm được việc này không thể diễn tả, giải thích được,
không thể chứng minh được, và cũng không ai có cùng một trải
nghiệm tương tự như thế, nó là một trải nghiệm có tính chất duyên
căn cá nhân. Ai uống nước thì tự mình biết nóng hay lạnh. Trong
trường hợp của ông, chỉ mình ông cảm nhận được sự an lạc hòa
hợp cá nhân vào vũ trụ, nhập với tất cả, không còn phân biệt giữa
mình và vũ trụ nữa. Lúc đó cũng có các phi hành gia khác ở trong
phi thuyền. Tại sao họ không có được trải nghiệm giống như ông?
Tại sao chỉ mình ông có được cảm nhận đó? Nếu nói theo khoa học
thì một khi ông cảm nhận được điều gì, tất cả những người khác
cũng đều phải thấy như thế. Tóm lại, đây là điều mà khoa học không
thể giải thích hay chứng minh, vì nó nằm ngoài phạm trù của khoa
học.
Giáo sư Yeh hỏi tiếp:
- Ông Mitchell, trải nghiệm lạ lùng đó có trở lại với ông nữa
không? Khi trở về trái đất, ông còn có cảm nhận đó nữa không?
Phi hành gia Mitchell trả lời:
- Có chứ, tôi vẫn cảm nhận được và sống trong niềm an lạc vô
biên này. Nó hoàn toàn thay đổi quan niệm của tôi về con người và
vũ trụ, vì thế tôi mới tìm cách giải thích nó theo khoa học, luận lý
học, triết học và tâm linh. Tôi đồng ý với Hòa thượng Thánh Nghiêm
về điều ngài dạy; nhưng là người nghiên cứu khoa học, tôi vẫn
muốn tìm cách kết nối khoa học với trải nghiệm nội tại, để mở ra một
chân trời mới cho kiến thức còn thiếu sót của nhân loại hiện nay.
Giáo sư Yeh tiếp tục đặt câu hỏi:
- Ông nghĩ sao về các lý thuyết khoa học còn thiếu sót hiện nay?
Chẳng hạn như giả thuyết về sự hình thành vũ trụ qua vụ nổ Big
Bang?
Phi hành gia Mitchell trả lời:
- Khoa học thực nghiệm được xây dựng từ những lý luận, rồi
được chứng minh qua các cuộc thí nghiệm với những dữ liệu chính
xác. Giả thuyết về sự hình thành vũ trụ qua vụ nổ Big Bang mặc dù
được đa số chấp nhận nhưng chưa ai có thể chứng minh nó một
cách chính xác. Do đó, nó vẫn chỉ là một giả thuyết. Nó giải thích
được một số hiện tượng, nhưng nó chưa hoàn chỉnh để có thể được
công nhận là sự thật tuyệt đối. Theo tôi thì với đà tiến triển của khoa
học ngày nay, giả thuyết này có thể trở nên lỗi thời, khi có thêm
những bằng chứng hay dữ liệu khác. Tôi không nghĩ vũ trụ chỉ là kết
quả của một vụ nổ, mà là một cái gì đó vận động, thay đổi không
ngừng, do đó rất khó định nghĩa thật rõ ràng.
Giáo sư Yeh đặt vấn đề:
- Nhưng nếu loại bỏ lý thuyết về vụ nổ Big Bang thì phải chăng
thời gian không bắt đầu từ lúc tạo lập ra vũ trụ mà là một cái gì đó
không có khởi thủy?
Phi hành gia Mitchell giải thích thêm:
- Đối với tôi, thời gian chỉ là một sự đo lường có tính tương đối.
Chính con người đề xướng ra cái gọi là “thời gian” trên trái đất này
chứ tự nhiên không phân chia ra như thế. Con người tạo ra quan
niệm về thời gian, rồi chia nó ra thành nhiều mảnh vụn. Trái đất quay
quanh mặt trời một vòng thì được xem là một năm, rồi một năm có
mười hai tháng, mỗi tháng có một số ngày, rồi ngày chia ra giờ, giờ
chia ra phút, phút chia ra giây v.v… Sự phân chia này chỉ mang tính
giới hạn trên trái đất mà thôi. Nếu chúng ta đi lên Hỏa Tinh, hay Kim
Tinh, chúng ta sẽ phải thay đổi thời gian khác đi. Nếu chúng ta tiếp
tục đi vào không gian thì thời gian trên trái đất sẽ không còn giá trị
nữa.
Giáo sư Yeh quay qua hỏi Hòa thượng Thánh Nghiêm:
- Bạch Hòa thượng, một nhà khoa học không gian và là một phi
hành gia nổi tiếng như ông Mitchell đây cũng không hoàn toàn tin
vào giả thuyết về sự hình thành vạn vật qua vụ nổ Big Bang, mà cho
rằng vũ trụ là một cái gì đó luôn luôn thay đổi. Nếu thế phải chăng
vạn vật không có khởi đầu hay chấm dứt, mà chỉ là một diễn trình
thay đổi không ngừng? Bạch Hòa thượng, liệu quan niệm này có
khác với quan niệm của Phật giáo trong kinh Hoa Nghiêm
(Avatamsaka) không?
Hòa thượng Thánh Nghiêm trả lời:
- Cho đến nay, mọi người đều cho rằng vạn vật được hình thành
từ vụ nổ Big Bang. Các nhà khoa học cũng dựa vào giả thuyết này
để đưa ra các lý luận khoa học về không gian, thời gian v.v... Tôi
mừng vì một nhà khoa học lỗi lạc và là phi hành gia nổi tiếng như
ông đây lại nghĩ khác. Ông tin rằng vũ trụ luôn luôn thay đổi và vận
động không ngừng, do đó rất hợp với quan niệm “thành, trụ, hoại,
diệt” vì mọi sự vật, mọi hiện tượng luôn luôn thay đổi, không có khởi
đầu hay chấm dứt. Điều này rất hợp với quan niệm của Phật giáo.
Tuy nhiên, tôi muốn nói thêm rằng vũ trụ quan của Phật giáo
không phân chia thời gian và không gian như là hai thực thể khác
biệt mà bao gồm cả thời gian lẫn không gian. Thời gian bao gồm cả
quá khứ, hiện tại và tương lai. Không gian cũng bao trùm cả sáu
hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới). Nhưng thời gian có thật
sự hiện hữu không? Không! Thời gian chỉ được tạo ra khi có một đối
tượng trong không gian chuyển động, và nếu ta đo được sự chuyển
động đó thì thời gian hiện hữu. Nói cách khác, nếu ta cảm thấy
không gian thay đổi thì thời gian hiện hữu. Nếu không gian không
chuyển động thì sẽ không có thời gian. Nhưng nói như thế thì không
gian có hiện hữu không? Cũng không! Nếu ta không cảm nhận được
thời gian thì không gian cũng không hiện hữu. Tất cả chỉ là một cái
gì đó uyên nguyên rỗng lặng.
Nói cách khác, vũ trụ quan của Phật giáo là sự phối hợp giữa
không gian và thời gian. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì
cái kia không, tất cả đều liên hệ với nhau, tương tức và tương nhập
chặt chẽ. Tóm lại, mọi sự vật trong vũ trụ đều có tính tương đối,
nghĩa là đều vô thường, vô ngã và duyên sinh. Thời gian và không
gian tuy có tên gọi khác nhau nhưng cùng chung một bản thể, hay
“vạn vật đồng nhất thể”, một là tất cả, tất cả là một.
Hòa thượng Thánh Nghiêm tiếp tục giải thích:
- Ngày nay, ngành vật lý không gian đã chứng minh điều này
bằng thuyết Tương đối của Albert Einstein. Đặc biệt là quan niệm về
không gian bốn chiều, nêu rõ ý nghĩa: không gian và thời gian không
phải là hai điều tuyệt đối có tự thể riêng biệt, mà chỉ có tính tương
đối thôi. Phải dùng từ “kỳ gian” (space- time) để gọi chung cho cả
hai mới đúng, vì tính chất của chúng là dung thông, hòa hợp với
nhau làm một, thâu nhiếp và tương nhập với nhau một cách tuyệt
diệu.
Với trí óc siêu việt, Einstein đã tìm ra được luật Tương đối, thấy
được vận tốc, thời gian, không gian, khối lượng đều là những gì
tương đối chứ không tuyệt đối. Công thức E = mc2 của ông đã
chứng minh rằng năng lượng (energy) chính là khối lượng (mass)
của vật đó khi di chuyển nhanh bằng lũy thừa của vận tốc ánh sáng.
Lúc đó, vật chất sẽ biế...
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN MỞ ĐẦU
ĐÀI BẮC
Nhân Duyên
PHẦN MỘT
COLORADO
Cuộc Gặp Tiền Định
PHẦN HAI
ATLANTIS
Tiền Kiếp Dậy Sóng
PHẦN BA
KARMA
Nghiệp Quả Báo Ứng
PHẦN BỐN
AI CẬP
Thần Linh Không Trong Tượng Đài
PHẦN NĂM
PHARAOH
Quyền Lực Và Yêu Thương
PHẦN SÁU
LUÂN HỒI CÁC NỀN VĂN MINH
Không Có Gì Là Mãi Mãi
PHẦN BẢY
THÀNH - TRỤ - HOẠI - DIỆT
Vòng Tròn Vũ Trụ
LỜI GIỚI THIỆU
HÀNH TRÌNH
T
Muôn Kiếp Nhân Sinh
ôi chưa từng có dịp gặp tác giả Nguyên Phong. Trước đó, tôi
biết đến ông như một nhà khoa học nổi tiếng thế giới và
cũng là người phóng tác, viết lại những tác phẩm về văn hóa, tâm
linh kinh điển mà nhiều thế hệ bạn đọc Việt, trong đó có tôi, hằng
yêu mến.
Hơn năm năm trước tôi có nhân duyên được trò chuyện cùng tác
giả Nguyên Phong về những bí ẩn liên quan đến tác phẩm kỳ bí nổi
tiếng Hành Trình về Phương Đông - tác phẩm ra đời gần nửa thế kỷ
trước nhưng không một ai trên thế giới có thể truy tìm được bản
gốc, để biết bao độc giả nhiều thế hệ còn thắc mắc và khiến một nhà
xuất bản ở Mỹ phải dịch ra tiếng Anh từ nguyên bản tiếng Việt mà
Nguyên Phong đã phóng tác. Tôi đã hiểu rộng hơn nghĩa phóng tác
- là có thể viết theo tiềm thức của mình, bằng kiến thức và những
chiêm nghiệm cuộc sống. Và tôi đã nghiệm ra, có những người Việt
vô cùng khiêm nhường nhưng không hề thua kém bất cứ ai trên thế
giới rộng lớn này.
Tôi đã may mắn được ông chia sẻ nhiều câu chuyện trong nhiều
năm. Vào một đêm khuya năm 2016, trong cuộc trò chuyện kéo dài
gần về sáng, tôi đã hỏi ông về Nhân quả và Luân hồi. Ông đã kể lại
một mối nhân duyên xảy ra nhiều năm trước, về Thomas - một
doanh nhân nổi tiếng ở New York - và những câu chuyện tiền kiếp
của mình. Tôi đã vô cùng ngạc nhiên và linh cảm rằng câu chuyện
này có liên quan đến những trăn trở trước giờ của tôi, và chắc cũng
của rất nhiều người. Tôi rất mong tác giả Nguyên Phong có thể viết
lại những câu chuyện đó thành một cuốn sách. Ông im lặng không
trả lời, và cũng không nhắc lại chuyện này trong những cuộc nói
chuyện tiếp theo. Bẵng đi hơn hai năm, tôi bất ngờ nhận được thư
điện tử của ông, trong đó là những chương đầu tiên của cuốn sách
mà ông đặt tên là Muôn Kiếp Nhân Sinh. Đọc xong, tôi đã thầm nghĩ
không thể có cái tên nào chính xác hơn. Tôi biết được rằng trong hai
năm qua ông đã bay sang New York nhiều lần, phỏng vấn, trò
chuyện với ông Thomas để thực hiện cuốn sách. Trước đó, tác giả
Nguyên Phong đã liên lạc với ông Thomas để hỏi xin ý kiến về việc
viết một cuốn sách kể lại các câu chuyện tiền kiếp mà ông từng chia
sẻ. Ban đầu ông không chắc ông Thomas sẽ chấp nhận, vì nhiều
câu chuyện quá riêng tư, nhạy cảm, nhưng bất ngờ thay, Thomas đã
đồng ý.
Muôn Kiếp Nhân Sinh là một bức tranh lớn với vô vàn mảnh
ghép cuộc đời, là một cuốn phim đồ sộ, sống động về những kiếp
sống huyền bí, trải dài từ nền văn minh Atlantis hùng mạnh đến
vương quốc Ai Cập cổ đại của các Pharaoh quyền uy, đến Hợp
Chủng Quốc Hoa Kỳ ngày nay - nơi nhân vật chính Thomas, người
bạn tâm giao lâu năm của tác giả Nguyên Phong - đang sống.
Muôn Kiếp Nhân Sinh cung cấp cho bạn đọc kho kiến thức mới
mẻ, vô tận của nhân loại lần đầu được hé mở, cùng những phân
tích uyên bác, tiên đoán bất ngờ về hiện tại và tương lai thế giới của
những bậc hiền triết thông thái. Thông điệp quan trọng xuyên suốt
của tác phẩm thức tỉnh con người chính là nguồn gốc và cách thức
vận hành luật Nhân quả và Luân hồi của vũ trụ. Đời người tưởng
chừng rất dài nhưng lại trôi qua rất nhanh, sinh vượng suy tử, mong
manh như sóng nước. Luật Nhân quả cực kỳ chính xác, chi tiết,
phức tạp, được thu thập qua nhiều đời, nhiều kiếp, liên hệ tương hỗ
đan xen chặt chẽ lẫn nhau, không ai có thể tính được tích đức này
có thể trừ được nghiệp kia, không ai có thể biết được khi nào nhân
sẽ trổ quả. Nhưng, một khi đã gây ra nhân thì chắc chắn sẽ gặt quả
- luật Nhân quả trước giờ không bao giờ sai.
Những xung lực, năng lượng vô hình của vũ trụ qua luật Luân
hồi và Nhân quả đã tạo nhân duyên để người này gặp người kia.
Gặp nhau có khi là duyên, có khi là nợ; gặp nhau có lúc để trả nợ,
có lúc để nối lại duyên xưa. Có biết bao việc diễn ra trong đời, tưởng
chừng như là ngẫu nhiên nhưng thật ra đã được sắp đặt từ trước.
Luân hồi là một ngôi trường rộng lớn, nơi tất cả con người, tất cả
sinh vật đều phải học bài học của riêng mình cho đến khi thật hoàn
thiện mới thôi. Nếu không chịu học hay chưa học được trọn vẹn thì
buộc phải học lại, chính xác theo quy luật của Nhân quả. Có người
có cơ duyên được chứng kiến luật Nhân quả hay Luân hồi, có người
thì không, điều đó còn phụ thuộc vào cơ duyên, nhận thức, trải
nghiệm và niềm tin ở mỗi người.
Một lời tri ân chân thành tới tác giả Nguyên Phong - người đã
dày công viết nên cuốn sách đặc biệt này - là không đủ. Qua những
lần trò chuyện, tôi nhận ra ông chỉ có một ước mong duy nhất khi
viết cuốn sách này. Xin được cảm ơn ông Thomas - vì tất cả. Xin
được chia sẻ cùng bạn đọc những chiêm nghiệm sâu sắc, tâm huyết
nhất của ông:
“Hiện nay thế giới đang trải qua giai đoạn hỗn loạn, xáo trộn, mà
thật ra thì mọi quốc gia đều đang gánh chịu những nghiệp quả mà
họ đã gây ra trong quá khứ. Mỗi quốc gia, cũng như mọi cá nhân,
đều có những nghiệp quả riêng do những nhân mà họ đã gây ra. Cá
nhân thì có 'biệt nghiệp' riêng của từng người, nhưng quốc gia thì có
'cộng nghiệp' mà tất cả những người sống trong đó đều phải trả.
Hãy nhìn khắp thế giới hiện nay với hơn bảy tỷ người, có bao
nhiêu người đang hành động độc ác, vô nhân tính? Có những quốc
gia đang đối xử với người khác tàn độc như thế nào? Có biết bao cái
chết thương tâm và cuộc sống bi đát của nhiều con người vô tội đã
và đang diễn ra? Hãy thử nghĩ nếu tất cả đều chịu học hỏi và hiểu rõ
về Nhân quả, biết rõ một khi 'gieo nhân gì sẽ gặt quả đó' thì có ai
dám hành động như thế không? Thường thì con người, khi hành
động, ít ai nghĩ đến hậu quả, nhưng một khi hậu quả xảy đến thì họ
nghĩ gì, làm gì? Họ oán hận, trách trời, trách đất, trách những người
chung quanh đã gây ra những hậu quả đó? Có mấy ai biết chiêm
nghiệm, tự trách mình và thay đổi không? Đó là động lực để tôi chia
sẻ những câu chuyện chưa từng kể với ai này - dù có những điều
thiên cơ bất khả lộ - và chấp thuận để anh chia sẻ những trải
nghiệm, bài học vô tiền khoáng hậu này với các bạn của anh, để viết
thành một cuốn sách cho nhiều người trên thế giới cùng chiêm
nghiệm - giữa lúc hành tinh đang gặp nhiều tai ương, biến động từng
ngày. Tôi mong chúng ta - những cánh bướm bé nhỏ rung động
mong manh cũng có thể tạo nên những trận cuồng phong mãnh liệt
để thức tỉnh mọi người.
Tương lai của mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia và cả
hành tinh này sẽ ra sao trong giai đoạn sắp tới là tùy thuộc vào thái
độ ứng xử, nhìn nhận và thức tỉnh của từng cá nhân, từng tổ chức,
từng quốc gia đó tạo nên. Nếu muốn thay đổi, cần khởi đầu bằng
việc nhận thức, chuyển đổi tâm thức, lan tỏa yêu thương và chia sẻ
sự hiểu biết từ mỗi người chúng ta trước.
Nhân quả đừng đợi thấy mới tin. Nhân quả là bảng chỉ đường,
giúp con người tìm về thiện lương“.
Nguyễn Văn Phước
Sáng lập First News - Trí Việt
PHẦN MỞ ĐẦU
ĐÀI BẮC
N
Nhân Duyên
Năm 2008, tôi có dịp tham dự một hội thảo khoa học tại Đài
Bắc. Nhân dịp đó, tôi liên lạc với một người bạn thân, giáo
sư Raymond Yeh, để đến thăm ông này. Giáo sư Yeh là cựu Trưởng
khoa Khoa học Máy tính tại trường Đại học Texas và Đại học
Maryland. Ông là một nhà khoa học, là tác giả của rất nhiều tài liệu
nghiên cứu và của mười cuốn sách giáo trình được dạy trong các
trường đại học tại Hoa Kỳ. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ khoa học
gia và giáo sư nổi tiếng ngày nay. Mặc dù đã về hưu và sống tại Đài
Bắc nhưng ông vẫn tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực khoa học và có
tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới. Giáo sư Yeh vui mừng mời tôi ghé
qua tư gia ăn tối. Điều bất ngờ là trong bữa ăn đó cũng có sự hiện
diện của phi hành gia Edgar Mitchell1 và một người bạn của ông tên
là Thomas K, cũng đến thăm giáo sư Yeh.
Giáo sư Yeh mở đầu giới thiệu với mọi người:
- Phi hành gia Edgar Mitchell là một nhà khoa học lỗi lạc với
nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về không gian tại Đại học
Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Ông là một trong
sáu người đã đặt chân lên mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 14 vào
ngày 31 tháng 1 năm 1971. Trên hành trình trở về trái đất, nhìn qua
cửa sổ của phi thuyền, ông thấy trái đất thật nhỏ bé so với vũ trụ
bao la và bất ngờ trải nghiệm một cảm giác bình an lạ lùng không
thể diễn tả.
Khi trở về, ông tìm đủ mọi cách để tìm hiểu về cái cảm giác đó.
Là nhà khoa học, Edgar Mitchell cố gắng nghiên cứu để giải thích sự
bình an lạ lùng này qua các lý thuyết khoa học nhưng không thành
công. Ông quy tụ một số khoa học gia nổi tiếng, thành lập một viện
nghiên cứu về mối liên hệ giữa khoa học và trải nghiệm nội tâm
(Institute of Noetic Science); nhưng qua nhiều năm, những nhà khoa
học lỗi lạc nhất này cũng chưa thể đi đến một kết luận nào cả. Do
đó, lần này tôi mời ông ấy đến gặp Hòa thượng Thánh Nghiêm,
mong rằng ngài có thể giúp ông ấy giải đáp thắc mắc về trải nghiệm
này.
Trong bữa ăn tối hôm đó, chúng tôi đàm đạo thân mật về các lý
thuyết khoa học vừa được phát minh vào lúc đó. Tôi nhận thấy phi
hành gia Mitchell là người có đầu óc cởi mở, với sự hiểu biết rộng
và sâu sắc hơn những nhà khoa học khác mà tôi đã gặp.
Ông Mitchell nói:
- Các phát minh khoa học mới nhất hiện nay đang thúc đẩy nhân
loại phải thay đổi cách suy nghĩ và quan niệm của họ, ngay cả với
những gì mà trước đây chúng ta vẫn cho là đúng. Càng ngày càng
có thêm nhiều khám phá mới, dữ kiện mới, có thể hoàn toàn thay
đổi nền tảng khoa học mà chúng ta đã xây dựng từ mấy trăm năm
nay. Thí dụ như, trong nhiều thế kỷ, chúng ta đã tin rằng trái đất là
trung tâm của vũ trụ và mọi hành tinh, kể cả mặt trời, mặt trăng đều
quay quanh trái đất. Dĩ nhiên hiện nay chúng ta biết rằng điều này
hoàn toàn sai. Mặt trời chỉ là trung tâm của một Thái Dương hệ, quả
đất của chúng ta và các hành tinh liên hệ đều quay quanh mặt trời.
Tuy nhiên, vũ trụ thì vô cùng rộng lớn và có rất nhiều Thái Dương hệ
khác mà chúng ta chưa biết đến. Theo ước tính của Cơ quan Hàng
không và Vũ trụ Mỹ (NASA) thì có khoảng hơn một tỷ Thái Dương
hệ trong vũ trụ bao la mà Thái Dương hệ của chúng ta chỉ là một
phần nhỏ trong đó.
Ông Mitchell bất chợt trầm ngâm, giọng xúc động:
- Chỉ khi con người đi ra ngoài không gian mới thật sự thấy được
chúng ta quá nhỏ bé giữa vũ trụ bao la ngoài sức tưởng tượng này.
Hiện nay, chúng ta biết rằng sự sống đã có mặt trên trái đất này từ
hàng triệu năm nay, nhưng biết đâu sự sống cũng có thể hiện hữu ở
các hành tinh khác hay các Thái Dương hệ khác nữa. Chúng ta cho
rằng loài người là thông minh nhất khi so sánh với các loài vật,
nhưng biết đâu có những sinh vật thuộc hành tinh khác còn thông
minh hơn mà chúng ta chưa hề biết đến.
Cách đây không lâu, chúng ta cho rằng vật thể nhỏ nhất trên thế
giới là phân tử (Molecule), nhưng sau đó chúng ta tìm ra nguyên tử
(Atom) và nghĩ rằng nguyên tử là vật thể nhỏ nhất. Hiện nay, chúng
ta biết rằng nguyên tử không phải là nhỏ nhất mà còn có những hạt
lượng tử nhỏ hơn nhiều (Quark). Nếu chúng ta tiếp tục nghiên cứu
thì có lẽ sẽ còn có những thứ nhỏ hơn nữa. Do đó, kiến thức của
chúng ta luôn luôn thay đổi theo các khám phá mới của khoa học.
Nếu chúng ta có thể chứng minh được rằng hạt vi lượng (Neutrino)
di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng thì quan niệm về thuyết
Tương đối của Einstein phải thay đổi và quỹ đạo của mọi hành tinh
trong vũ trụ sẽ khác hẳn những gì chúng ta đo được ngày nay.
Ông ngừng lại và nhấn mạnh từng chữ:
- Vấn đề là chúng ta sẽ phản ứng như thế nào với những dữ kiện
mới được khám phá? Liệu chúng ta có chấp nhận rằng những gì
chúng ta tin tưởng từ bấy lâu nay chỉ là những lý thuyết không còn
giá trị nữa không? Hay chúng ta vẫn bám chặt lấy quan niệm cũ vì
đã coi chúng như là chân lý tuyệt đối?
Giáo sư Yeh đồng tình tiếp lời:
- Khoa học thực nghiệm chỉ là tập hợp những kiến thức thu tập
được từ nhiều cuộc thí nghiệm, với những dữ liệu được đo lường,
quan sát và kiểm chứng. Là khoa học gia, chúng ta luôn luôn tìm
kiếm, học hỏi và nghiên cứu dựa trên lý luận, đặt ra những giả
thuyết, rồi chứng minh rằng chúng đúng hay sai. Tất cả những gì
chúng ta xây dựng đều hoàn toàn dựa vào các công cụ đo lường;
nhưng với sự tiến bộ của khoa học, khi các công cụ này ngày một
tinh vi hơn, chính xác hơn, chúng ta sẽ tìm thêm được những dữ
liệu mới để bổ sung cho những dữ liệu trước và tiếp tục xây dựng
nền khoa học hiện nay. Nói cho đúng thì khoa học thực nghiệm là
một tiến trình luôn luôn thay đổi để bổ sung cho những gì bất toàn
trước đây.
Ông Mitchell mỉm cười:
- Nhưng sẽ có một lúc nào đó chúng ta tìm ra những dữ liệu
hoàn toàn khác với những dữ liệu trước đó. Chúng ta sẽ đặt ra
những giả thuyết mới để thay đổi các quan niệm hiện tại và chúng ta
sẽ có một cuộc cách mạng khoa học lật đổ tất cả những gì chúng ta
xây dựng trước đây.
Bất chợt, ông Mitchell quay qua hỏi tôi:
- Anh cũng là một nhà khoa học, vậy anh nghĩ như thế nào?
Tôi suy nghĩ, rồi trả lời:
- Một cuộc cách mạng khoa học như thế có lẽ cần nhiều thứ hơn
là việc đưa ra một lý thuyết mới để đánh đổ những lý thuyết trước.
Theo tôi nghĩ, trước hết, chúng ta phải nghiệm lại các quan niệm
trước để tìm hiểu tại sao chúng không còn đúng nữa. Như giáo sư
Yeh đã nói, nếu chúng ta phát minh ra những công cụ tinh vi hơn,
chính xác hơn, thì chúng ta hiểu rằng công cụ trước đây không hoàn
hảo. Nếu chúng ta có thể chứng minh rằng những dữ liệu mới này
hợp lý hơn, chính xác hơn, giá trị hơn, thì chúng ta có thể đưa ra
bằng chứng để biện minh cho lý thuyết mới này và thay thế lý thuyết
trước đã không còn giá trị nữa. Tuy nhiên, tôi nghĩ có lẽ sẽ phải mất
nhiều thời gian để thay đổi tư duy của mọi người.
Chúng tôi tiếp tục thảo luận về các phát minh khoa học, nhưng
phần lớn là cuộc đối thoại giữa phi hành gia Mitchell và giáo sư Yeh.
Tôi và ông Thomas chỉ ngồi nghe, đôi khi thêm vào vài câu xã giao.
Tôi thấy ông Thomas chăm chú vào cuộc đối thoại, thỉnh thoảng lại
mỉm cười nhưng không nói gì. Có lẽ vì ông là một doanh nhân chứ
không phải là khoa học gia như chúng tôi nên ông kiệm lời hơn.
Sau bữa ăn, ông Mitchell hỏi tôi:
- Ngày mai chúng tôi sẽ đến gặp Hòa thượng Thánh Nghiêm,
anh có muốn đi cùng với chúng tôi không?
Dĩ nhiên tôi không thể từ chối một cơ hội hiếm có như vậy.
Buổi gặp gỡ được sắp đặt trước này diễn ra tại giảng đường Đại
học Đài Bắc cho một số sinh viên và giáo sư tham dự. Giáo sư Yeh
là người chủ trì buổi nói chuyện.
Giáo sư Yeh bắt đầu cuộc gặp mặt:
- Mitchell, ông hãy kể về trải nghiệm lạ lùng khi bay trên không
gian vũ trụ cho Hòa thượng Thánh Nghiêm nghe và hỏi ngài về
những thắc mắc của ông đi.
Phi hành gia Mitchell lên tiếng:
- Thưa Hòa thượng, sau khi hoàn tất sứ mệnh trên mặt trăng,
chúng tôi bắt đầu bay trở về trái đất. Khi bay trong không gian, phi
thuyền của chúng tôi phải liên tiếp xoay tròn theo trục di chuyển 360
độ để giảm sức nóng phát ra từ ánh sáng mặt trời. Do đó, cứ mỗi
hai phút thì tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt trăng và mặt trời qua cửa
kính của phi thuyền. Tôi cũng phải nói thêm là bên ngoài không gian,
vì không có bầu khí quyển nên chúng tôi nhìn thấy các hành tinh rất
rõ. Khi ở trên trái đất, chúng ta nhìn lên bầu trời và thấy các vì sao
lấp lánh vì ảnh hưởng của bầu khí quyển; nhưng trong không gian,
tất cả đều sáng rõ như một mạng lưới khổng lồ với hàng ngàn hàng
vạn vì sao trông như những hạt kim cương tỏa sáng. Đó là một hình
ảnh tuyệt vời đối với các phi hành gia chúng tôi lúc đó. Ngày nay,
mọi người đều có thể nhìn thấy hình ảnh này qua kính viễn vọng
Hubble, hay qua các hình ảnh mà Cơ quan Hàng không và Vũ trụ
Mỹ chụp được và đưa lên mạng. Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy
vũ trụ đẹp vô cùng, không lời nào có thể diễn tả được.
Là một nhà khoa học, tôi biết rằng tất cả những tế bào, những
nguyên tử trong cơ thể tôi, hay cơ thể của những người bạn tôi
trong phi thuyền, và ngay cả những nguyên tử cấu tạo nên phi
thuyền, đều phát xuất từ hành tinh của chúng ta hay chính là khởi
nguồn trong vũ trụ. Mọi hiện tượng vật chất đều phát xuất từ vũ trụ
này. Từ đó, tôi ý thức rằng thân thể của tôi và tất cả mọi vật trong vũ
trụ không có gì sai biệt. Thay vì là một cá thể độc lập, một thành
phần riêng rẽ, tôi ý thức rằng tất cả cùng chung một nguồn gốc.
Ngay khi đó, toàn thân tôi bỗng nhiên rung động mãnh liệt. Tôi thấy
mình chìm đắm trong một cảm giác bình an lạ lùng không thể diễn
tả. Trải nghiệm này tiếp tục diễn ra mỗi khi tôi không bận rộn. Là phi
hành gia, dĩ nhiên chúng tôi rất bận vì vừa phải điều khiển phi
thuyền, vừa phải hoàn thành những thí nghiệm khoa học trong phi
thuyền, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng dừng lại nhìn ra ngoài cửa sổ
để chiêm ngưỡng vẻ đẹp diệu kỳ của vũ trụ và cảm nhận cảm giác
bình an lạ lùng này.
Với mỗi vòng quay của phi thuyền, tôi lại nhìn thấy trái đất, mặt
trăng, mặt trời, cùng các vì tinh tú lấp lánh. Tôi thấy vũ trụ giống như
một tấm lưới với hàng triệu vì sao toát ra thứ ánh sáng rực rỡ, và tôi
ý thức rõ ý niệm “vạn vật đồng nhất thể”. Tôi hiểu rằng nếu đã đồng
nhất với tất cả thì vạn vật đều liên quan chặt chẽ với nhau, không
thể tách rời được. Đây là một quan niệm mới lạ mà từ trước đến
nay, các nhà khoa học chúng tôi không ai nghĩ đến.
Trong trải nghiệm bình yên đặc biệt đó, tôi tự hỏi: “Tôi thực sự là
ai? Tôi từ đâu tới đây? Rồi tôi sẽ đi về đâu? Vũ trụ được hình thành
và có mối liên hệ như thế nào với trái đất cùng những con người
sống ở đó? Có phải chúng tôi, những người đầu tiên du hành ra
ngoài không gian, đã cảm nhận được sự tương quan rõ rệt giữa con
người và vũ trụ, khác hẳn với ý niệm của những người chưa từng
rời trái đất?”.
Từ ý niệm này, tôi nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc phải tìm cách thay
đổi các quan niệm định kiến chật hẹp đã giam cầm bao nhiêu thế hệ
từ trước đến nay bằng một quan niệm mới về sự tương quan giữa
con người và vũ trụ. Có lẽ các định luật khoa học, các kiến thức
được xây dựng từ ngàn xưa sẽ phải thay đổi khi chúng ta nhìn lại tất
cả những gì chúng ta đã làm trên trái đất này, sau khi chứng kiến sự
nhỏ bé của chúng ta so với vũ trụ bao la. Ngay như nền khoa học
hiện đại bắt đầu khoảng bốn trăm năm trước với Isaac Newton cũng
sẽ phải thay đổi khi con người bước ra khỏi tầm ảnh hưởng của sức
hút trái đất.
Khi lan man nghĩ đến đó, tôi chợt nghĩ đến những bậc tiên phong
như Copernicus, Galileo và những nhà khoa học lỗi lạc khác đã đưa
ra ý kiến về sự tương quan giữa trái đất và vũ trụ nhưng phải chịu
đựng sự chống đối, kỳ thị của những quan niệm thiển cận, hẹp hòi
lúc bấy giờ. Người thì bị thiêu sống, người thì bị giam cầm cho đến
chết, nhưng sự thật vẫn là sự thật, không thể chối cãi. Tất cả khuynh
hướng bảo thủ, hẹp hòi trước sau cũng phải thay đổi khi người ta
biết hướng tầm mắt lên cao, xóa bỏ thành kiến cũ và mở rộng tâm
hồn để nhìn ra vũ trụ bao la.
Phi hành gia Mitchell ngừng lại suy nghĩ, rồi tiếp tục:
- Khi trở về trái đất, tôi luôn thắc mắc về cái cảm giác bình an lạ
lùng này. Tôi tìm đọc rất nhiều sách vở khoa học nhưng không tìm
thấy gì có thể giải thích hiện tượng trên. Tôi chuyển qua nghiên cứu
các sách vở tôn giáo của phương Tây nhưng cũng không tìm được
gì. Tôi tìm đến những học giả thông thái nhưng không ai có thể trả
lời được thắc mắc của tôi. Một người bạn khuyên tôi nên tìm đọc
các tài liệu về tôn giáo phương Đông, và tôi bắt đầu nghiên cứu
Phật giáo, nhất là các sách nói về đại định (Samadhi). Tôi thấy có sự
trùng hợp giữa trải nghiệm mà tôi đã trải qua trên không gian với trải
nghiệm của các hiền triết phương Đông, khi họ diễn tả về trạng thái
thiền định.
Giáo sư Yeh chợt hỏi:
- Phải chăng cảm giác đó là thấy mình hợp nhất với vạn vật?
Phi hành gia Mitchell trả lời:
- Đúng thế, lúc đó tôi không thấy có sự khác biệt giữa mình và
vạn vật nữa. Cái cảm giác hòa hợp, rung động cùng với sự chuyển
động của vũ trụ, là một trải nghiệm kỳ lạ không thể diễn tả được
bằng lời.
Giáo sư Yeh quay sang hỏi Hòa thượng Thánh Nghiêm:
- Bạch Hòa thượng, theo quan niệm của Phật giáo, trải nghiệm
không còn thấy sự phân biệt giữa mình và vạn vật của phi hành gia
Mitchell có phải là một sự chứng ngộ không?
Hòa thượng Thánh Nghiêm mỉm cười nhìn ông Mitchell:
- Trước hết tôi rất mừng cho phi hành gia Mitchell đã có một trải
nghiệm đặc biệt. Trong hàng ngàn, hàng vạn người, không mấy ai
có được trải nghiệm như thế. Trong cuộc sống, khi người ta trải
nghiệm một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ, có thể thay đổi hẳn các
trải nghiệm cá nhân từ trước, ta có thể coi đó như là một sự chứng
ngộ. Tuy nhiên, đó cũng có thể chỉ là một cảm giác nhất thời.
Thí dụ như, cách đây không lâu, một đệ tử của tôi cũng có một
trải nghiệm đặc biệt. Sau một khóa tu thiền kéo dài bảy ngày, anh ta
trở về nhà. Trên đường về, anh ta thấy tất cả cây cối, hoa lá, từ
những con côn trùng nhỏ bé cho đến những chiếc lá cây, ngọn cỏ
đều vui mừng chào đón anh. Anh cảm nhận được một niềm an lạc
tuyệt vời như hòa nhập với ngoại cảnh và tin rằng mình đã chứng
ngộ. Anh vội vã trở lại kể cho tôi nghe về trải nghiệm đó. Tôi nói với
anh rằng tuy đó là một khoảnh khắc trải nghiệm tuyệt vời nhưng
cũng có thể biến đi ngay trong chốc lát. Đừng coi cảm giác đó là một
sự chứng ngộ. Nếu không tin, anh hãy thử trở lại khu vườn đó để
xem những cây cỏ, hoa lá, muông thú có chào đón anh như trước
không.
Khi quay trở lại, anh không cảm nhận được trải nghiệm như
trước nên đã hỏi: “Làm thế nào để con có thể lấy lại cái cảm giác
tuyệt vời đó?”. Tôi trả lời: “Không ai có thể sở hữu mãi mãi trải
nghiệm đã qua đó. Nếu muốn nắm giữ nó mãi thì anh thật tham lam.
Có được trải nghiệm này chỉ là một kết quả của quá trình tu tập mà
thôi. Đó không phải là sự chứng ngộ như anh kỳ vọng. Mục đích của
tu tập thiền định là để phát triển trí tuệ và xóa bỏ bản ngã. Nếu
chúng ta đạt đến trạng thái Vô ngã thì thế giới này còn tồn tại nữa
không? Nếu chúng ta đạt đến trạng thái Tâm vô phân biệt thì làm gì
còn có chúng ta hay thế giới này nữa? Đối với đa số mọi người, thế
giới này thật sự hiện hữu, nhưng đối với những người đã chứng ngộ
thì thế giới này chỉ là huyễn ảo, không có thật, do đó tất cả trải
nghiệm dù là trải nghiệm gì đi chăng nữa, cũng chỉ là huyễn ảo chốc
lát mà thôi. Chúng ta không nên để ý đến nó hay muốn nắm giữ nó
mãi làm gì”.
Giáo sư Yeh hỏi thêm:
- Bạch Hòa thượng, như thế thì dù chúng ta có được những trải
nghiệm gì cũng không nên bám víu vào nó hay sao?
Hòa thượng Thánh Nghiêm trả lời:
- Cho dù trải nghiệm đó diễn ra thế nào đi nữa, hãy để cho nó
đến và đi một cách tự nhiên. Có thể nó chỉ là điều xuất phát từ tâm
thức, sẽ thay đổi, vì tất cả mọi sự đều sẽ đổi thay. Dù nó hiện hữu
như thật, vẫn hãy coi nó chỉ là những hiện tượng của tâm thức mà
thôi.
Tuy nhiên, đối với những người đã trải nghiệm, rồi hoàn toàn
thay đổi nhận thức của họ và luôn luôn sống với tâm thức đó, thì
chúng ta có thể kết luận rằng người đó đã chứng ngộ. Theo quan
niệm của Phật giáo, người này đã có một “nhân” lành từ trước và
đến nay nó bắt đầu trổ “quả”.
Hòa thượng Thánh Nghiêm chia sẻ tiếp:
- Phi hành gia Mitchell là một nhà khoa học, nhưng không thể
giải thích trải nghiệm đó bằng lý luận của khoa học, không thể
chứng minh nó qua các cuộc thí nghiệm, hay tạo ra lý thuyết bằng
phương pháp luận lý. Ông tin rằng đây là một kiến thức mới, mà
khoa học cần khám phá, nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, ông nên biết
rằng cảm giác đó là một trải nghiệm tâm linh nằm trong phạm trù
của tôn giáo mà khoa học không thể giải thích. Triết học hay luận lý
học cũng không thể giải thích được, vì nó là một trải nghiệm tinh
thần xảy ra cho một người duy nhất - là ông mà thôi. Trải nghiệm ấy
đã làm thay đổi hoàn toàn cách suy nghĩ của ông. Từ đó, ông cảm
thấy nó trở thành một phần của ông, không thể tách rời ra được
nữa. Trải nghiệm này vượt khỏi phạm trù của khoa học bởi vì những
người trải nghiệm được việc này không thể diễn tả, giải thích được,
không thể chứng minh được, và cũng không ai có cùng một trải
nghiệm tương tự như thế, nó là một trải nghiệm có tính chất duyên
căn cá nhân. Ai uống nước thì tự mình biết nóng hay lạnh. Trong
trường hợp của ông, chỉ mình ông cảm nhận được sự an lạc hòa
hợp cá nhân vào vũ trụ, nhập với tất cả, không còn phân biệt giữa
mình và vũ trụ nữa. Lúc đó cũng có các phi hành gia khác ở trong
phi thuyền. Tại sao họ không có được trải nghiệm giống như ông?
Tại sao chỉ mình ông có được cảm nhận đó? Nếu nói theo khoa học
thì một khi ông cảm nhận được điều gì, tất cả những người khác
cũng đều phải thấy như thế. Tóm lại, đây là điều mà khoa học không
thể giải thích hay chứng minh, vì nó nằm ngoài phạm trù của khoa
học.
Giáo sư Yeh hỏi tiếp:
- Ông Mitchell, trải nghiệm lạ lùng đó có trở lại với ông nữa
không? Khi trở về trái đất, ông còn có cảm nhận đó nữa không?
Phi hành gia Mitchell trả lời:
- Có chứ, tôi vẫn cảm nhận được và sống trong niềm an lạc vô
biên này. Nó hoàn toàn thay đổi quan niệm của tôi về con người và
vũ trụ, vì thế tôi mới tìm cách giải thích nó theo khoa học, luận lý
học, triết học và tâm linh. Tôi đồng ý với Hòa thượng Thánh Nghiêm
về điều ngài dạy; nhưng là người nghiên cứu khoa học, tôi vẫn
muốn tìm cách kết nối khoa học với trải nghiệm nội tại, để mở ra một
chân trời mới cho kiến thức còn thiếu sót của nhân loại hiện nay.
Giáo sư Yeh tiếp tục đặt câu hỏi:
- Ông nghĩ sao về các lý thuyết khoa học còn thiếu sót hiện nay?
Chẳng hạn như giả thuyết về sự hình thành vũ trụ qua vụ nổ Big
Bang?
Phi hành gia Mitchell trả lời:
- Khoa học thực nghiệm được xây dựng từ những lý luận, rồi
được chứng minh qua các cuộc thí nghiệm với những dữ liệu chính
xác. Giả thuyết về sự hình thành vũ trụ qua vụ nổ Big Bang mặc dù
được đa số chấp nhận nhưng chưa ai có thể chứng minh nó một
cách chính xác. Do đó, nó vẫn chỉ là một giả thuyết. Nó giải thích
được một số hiện tượng, nhưng nó chưa hoàn chỉnh để có thể được
công nhận là sự thật tuyệt đối. Theo tôi thì với đà tiến triển của khoa
học ngày nay, giả thuyết này có thể trở nên lỗi thời, khi có thêm
những bằng chứng hay dữ liệu khác. Tôi không nghĩ vũ trụ chỉ là kết
quả của một vụ nổ, mà là một cái gì đó vận động, thay đổi không
ngừng, do đó rất khó định nghĩa thật rõ ràng.
Giáo sư Yeh đặt vấn đề:
- Nhưng nếu loại bỏ lý thuyết về vụ nổ Big Bang thì phải chăng
thời gian không bắt đầu từ lúc tạo lập ra vũ trụ mà là một cái gì đó
không có khởi thủy?
Phi hành gia Mitchell giải thích thêm:
- Đối với tôi, thời gian chỉ là một sự đo lường có tính tương đối.
Chính con người đề xướng ra cái gọi là “thời gian” trên trái đất này
chứ tự nhiên không phân chia ra như thế. Con người tạo ra quan
niệm về thời gian, rồi chia nó ra thành nhiều mảnh vụn. Trái đất quay
quanh mặt trời một vòng thì được xem là một năm, rồi một năm có
mười hai tháng, mỗi tháng có một số ngày, rồi ngày chia ra giờ, giờ
chia ra phút, phút chia ra giây v.v… Sự phân chia này chỉ mang tính
giới hạn trên trái đất mà thôi. Nếu chúng ta đi lên Hỏa Tinh, hay Kim
Tinh, chúng ta sẽ phải thay đổi thời gian khác đi. Nếu chúng ta tiếp
tục đi vào không gian thì thời gian trên trái đất sẽ không còn giá trị
nữa.
Giáo sư Yeh quay qua hỏi Hòa thượng Thánh Nghiêm:
- Bạch Hòa thượng, một nhà khoa học không gian và là một phi
hành gia nổi tiếng như ông Mitchell đây cũng không hoàn toàn tin
vào giả thuyết về sự hình thành vạn vật qua vụ nổ Big Bang, mà cho
rằng vũ trụ là một cái gì đó luôn luôn thay đổi. Nếu thế phải chăng
vạn vật không có khởi đầu hay chấm dứt, mà chỉ là một diễn trình
thay đổi không ngừng? Bạch Hòa thượng, liệu quan niệm này có
khác với quan niệm của Phật giáo trong kinh Hoa Nghiêm
(Avatamsaka) không?
Hòa thượng Thánh Nghiêm trả lời:
- Cho đến nay, mọi người đều cho rằng vạn vật được hình thành
từ vụ nổ Big Bang. Các nhà khoa học cũng dựa vào giả thuyết này
để đưa ra các lý luận khoa học về không gian, thời gian v.v... Tôi
mừng vì một nhà khoa học lỗi lạc và là phi hành gia nổi tiếng như
ông đây lại nghĩ khác. Ông tin rằng vũ trụ luôn luôn thay đổi và vận
động không ngừng, do đó rất hợp với quan niệm “thành, trụ, hoại,
diệt” vì mọi sự vật, mọi hiện tượng luôn luôn thay đổi, không có khởi
đầu hay chấm dứt. Điều này rất hợp với quan niệm của Phật giáo.
Tuy nhiên, tôi muốn nói thêm rằng vũ trụ quan của Phật giáo
không phân chia thời gian và không gian như là hai thực thể khác
biệt mà bao gồm cả thời gian lẫn không gian. Thời gian bao gồm cả
quá khứ, hiện tại và tương lai. Không gian cũng bao trùm cả sáu
hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới). Nhưng thời gian có thật
sự hiện hữu không? Không! Thời gian chỉ được tạo ra khi có một đối
tượng trong không gian chuyển động, và nếu ta đo được sự chuyển
động đó thì thời gian hiện hữu. Nói cách khác, nếu ta cảm thấy
không gian thay đổi thì thời gian hiện hữu. Nếu không gian không
chuyển động thì sẽ không có thời gian. Nhưng nói như thế thì không
gian có hiện hữu không? Cũng không! Nếu ta không cảm nhận được
thời gian thì không gian cũng không hiện hữu. Tất cả chỉ là một cái
gì đó uyên nguyên rỗng lặng.
Nói cách khác, vũ trụ quan của Phật giáo là sự phối hợp giữa
không gian và thời gian. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì
cái kia không, tất cả đều liên hệ với nhau, tương tức và tương nhập
chặt chẽ. Tóm lại, mọi sự vật trong vũ trụ đều có tính tương đối,
nghĩa là đều vô thường, vô ngã và duyên sinh. Thời gian và không
gian tuy có tên gọi khác nhau nhưng cùng chung một bản thể, hay
“vạn vật đồng nhất thể”, một là tất cả, tất cả là một.
Hòa thượng Thánh Nghiêm tiếp tục giải thích:
- Ngày nay, ngành vật lý không gian đã chứng minh điều này
bằng thuyết Tương đối của Albert Einstein. Đặc biệt là quan niệm về
không gian bốn chiều, nêu rõ ý nghĩa: không gian và thời gian không
phải là hai điều tuyệt đối có tự thể riêng biệt, mà chỉ có tính tương
đối thôi. Phải dùng từ “kỳ gian” (space- time) để gọi chung cho cả
hai mới đúng, vì tính chất của chúng là dung thông, hòa hợp với
nhau làm một, thâu nhiếp và tương nhập với nhau một cách tuyệt
diệu.
Với trí óc siêu việt, Einstein đã tìm ra được luật Tương đối, thấy
được vận tốc, thời gian, không gian, khối lượng đều là những gì
tương đối chứ không tuyệt đối. Công thức E = mc2 của ông đã
chứng minh rằng năng lượng (energy) chính là khối lượng (mass)
của vật đó khi di chuyển nhanh bằng lũy thừa của vận tốc ánh sáng.
Lúc đó, vật chất sẽ biế...
 





